Email Bản in

Biểu hiện sớm của ung thư đại tràng

 

 


Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Cho đến nay người ta vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra ung thư đại tràng. Một số bệnh hoặc trạng thái bệnh được coi là dễ chuyển thành ung thư đại tràng:

- Polýp: polýp nhung mao, polýp đơn độc kích thước 1 -2 cm trở lên, bệnh polýp đại tràng ở những phụ nữ bị ung thư vú hay ung thư tử cung thì có nguy cơ bị ung thư đại tràng cao hơn những người không bị. Bệnh viêm loét đại tràng, bệnh Crohn đại tràng cũng có thể là cơ sở cho ung thư đại tràng phát triển (3- 5%).
- Vai trò gián tiếp của các chất ăn uống: phần lớn ung thư trực tràng có liên quan đến yếu tố môi trường. Nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy có sự liên quan trực tiếp giữa bệnh và sự tiêu thụ nhiều năng lượng thịt, ăn nhiều dầu mỡ và sự gia tăng cholesterol trong máu cũng như bệnh mạch vành.
Người ta cho rằng ăn nhiều mỡ động vật làm gia tăng tỷ lệ vi khuẩn khí trong ruột, hậu quả là biến đổi acid mật thành chất sinh ung thư.
Một số nghiên cứu khác thì cho rằng người ăn nhiều chất xơ thì ít có nguy cơ ung thư đại tràng hơn người ít ăn chất xơ. Giả thuyết này cho rằng, có thể chất xơ làm gia tăng vận chuyển thức ăn qua ruột do đó làm giảm sự tiếp xúc chất sinh ung thư với niêm mạc đại tràng; hơn nữa thức ăn ít xơ gây nên táo bón kinh niên làm dễ xuất hiện các túi thừa.
- Yếu tố di truyền: theo kiểu gen trội những người gia đình có người đã bị ung thư đại tràng hoặc ung thư nhiều tạng khác hoặc có bệnh polýp gia đình... thì tỷ lệ bị ung thư đại tràng cao hơn người ở gia đình khác.

Ung thư đại tràng với một thời gian dài không có triệu chứng, khi có các biểu hiện sau đây cần phải đến khám bác sĩ:
-    Chảy máu trực tràng, bất luận theo kiểu gì và số lượng bao nhiêu.
-    Thay đổi thói quen bài phân: táo bón, tiêu chảy hoặc táo bón chảy xen kẽ mới xuất hiện gần đây và kéo dài.
-    Đau quặn bụng và đại tiện có mót rặn.
-    Sốt thiếu máu và tổng trạng suy giảm.
Khi đã phát hiện ra u, tùy theo vị trí của khối u mà có những triệu chứng thay đổi như sau :
-    Ung thư đại tràng phải: biểu hiện bởi các triệu chứng toàn thân như mỏi mệt, thiếu máu nhược sắc, sốt và đau bụng mơ hồ, khám thường sờ được khối u vùng hố chậu phải hoặc nửa bụng bên phải trong 50% trường hợp: biểu hiện rối loạn tiêu hóa chủ yếu là tiêu chảy.
-    Ung thư đại tràng trái: thường nhanh chóng đưa đến chít hẹp lòng đại tràng đưa đến táo bón và đau quặn bụng. Khi u nằm ở phần thấp thường phân có dải và dính dây máu. Khối u chỉ sờ thấy trong ¼ trường hợp.
-    Ung thư trực tràng được gợi ý trước tiên là do thay đổi thói quen bài phân, có mót rặn và đau sau hậu môn khi đại tiện: chảy máu trực tràng rất đa dạng với toàn máu hoặc phân nhầy máu hoặc máu chảy riêng ra sau khi đại tiện với số lượng cũng rất thay đổi. Đa số trường hợp thăm trực tràng có thể phát hiện khối u.
Tuy nhiên cũng có trường hợp ung thư đại tràng chỉ phát hiện do di căn nhất là di căn gan hoặc do tắc ruột.

Làm thế nào để chẩn đoán?
Để chẩn đoán sớm ung thư trực tràng nhất là khi có các triệu chứng nghi ngờ thì cần thăm trực tràng, soi trực tràng sigma, chụp baryt đại tràng và nếu cần thì soi đại tràng toàn bộ.
Thăm trực tràng là một khám nghiệm rất có giá trị cho việc chẩn đoán ung thư trực tràng khi sờ thấy một khối cứng, gồ ghề và có máu dính găng, cần xác định tính chất di động hay đã dính chặt vào cơ quan kế cận trong khung chậu.
Soi trực tràng sigma: đây là một thủ thuật đơn giản giúp phát hiện 2/3 đến ¾ ung thư đại tràng, cần phối hợp với sinh thiết hoặc cắt bỏ các khối u nhỏ còn nằm ở bề mặt.
Chụp phim baryt đại tràng: cũng giúp phát hiện các khối u có đường kính trên 2 cm.
Soi đại tràng toàn bộ: cho kết quả rất tốt về mặt hình thái, đồng thời kết hợp với sinh thiết sẽ giúp chẩn đoán sớm; đây là biện pháp cần thiết, tiến hành với các bệnh nhân có nguy cơ cao ung thư đại tràng 3 - 6 tháng/ lần.
Siêu âm nội soi hoặc CT Scanner: trong ung thư trực tràng khu trú dưới niêm mạc thì siêu âm nội soi hoặc CT Scanner là phương tiện chính giúp chẩn đoán và giúp phát hiện di căn quanh trực tràng và cơ quan kế cận.

Điều trị và dự phòng như thế nào?
Tuỳ theo giai đoạn, tính chất, mức độ của bệnh và điều kiện sức khoẻ của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ cân nhắc sử dụng các biện pháp điều trị như phẫu thuật, xạ trị liệu, hoá trị liệu, điều trị bằng laser hoặc thậm chí là điều trị triệu chứng.
Lý tưởng nhất là phát hiện một cách hệ thống các polýp đại trực tràng trước khi xuất hiện ung thư cho tất cả những người lớn trên 50 tuổi nhất là ở người có nguy cơ cao: những người đã điều trị polýp hoặc ung thư đại trực tràng hoặc con cháu của họ, hoặc là những người bị ung thư vú, tử cung, buồng trứng, tiền liệt tuyến, những người viêm đại tràng mạn. Tìm máu ở trong phân để sàng lọc những người sẽ soi đại tràng. Đồng thời giảm thiểu các yếu tố nguy cơ như giảm thức ăn nhiều mỡ động vật, giảm cholesterol máu, tăng cường thức ăn xơ.
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ung thư. Ban điều hành chương trình PCUT- Viện Nghiên cứu PCUT- Bệnh viện K - 43 Quán Sứ, Hà Nội  ĐT :  04.39344138

Ths. NGUYỄN BẠCH ĐẰNG

Báo Sức khoẻ & Đời sống - Số 121 ngày 31/7/2010

 

 

Các tin khác

Cần phải có tất cả thông tin.

Người gởi
Người nhận