Email Bản in

Chè thuốc và Chè thực phẩm chức năng

 

 

 

Sử dụng chè thuốc chữa bệnh
Chè thuốc điều trị bằng cách hãm: cho dược liệu khô, có độ mịn thích hợp vào bình hãm chuẩn (có khả năng duy trì nhiệt) trong thời gian từ 15 phút đến 2 giờ (tùy dược liệu, số lượng).
Bình hãm dược dụng có thể tích khoảng 500 ml, có hai lớp vỏ dày, cách nhiệt, khi cho nước đun sôi (1000C) vào bình hãm có chứa dược liệu sẵn (đủ một lần dùng) thì bình hãm sẽ có nhiệt độ ổn định ở mức dưới nhiệt sôi (khoảng 70-80 độ C).
Thời gian hãm cần vừa đủ, nếu hãm quá nhanh hoạt chất sẽ không ra hết, nếu hãm quá lâu không chiết xuất thêm hoạt chất mà thêm tạp chất, có khi hoạt chất còn bị hỏng do tiếp xúc với môi trường nhiệt độ cao, kéo dài.
Vì là chè thuốc nên dược liệu hãm mỗi lần ít (thường 5-10-20 gam), vừa đúng cho một lần dùng. Có người cho nhiều dược liệu vào phích cỡ 2000ml, cho nước sôi vào để uống trong cả ngày. Cách này có vẻ tiện, nhưng không hẳn đúng. Làm vậy gần giống như sắc (vào giai đoạn hạ lửa sắc, nhiệt độ cao hơn hãm một chút, kéo dài 4 - 8 giờ). Có người lại cho nhiều dược liệu vào bình pha trà quá nhỏ, đổ nước sôi vào, để nguyên ở nhiệt độ bình thường nên không đủ nước và nhiệt độ chiết hoạt chất. Một cách làm tuy đơn giản nhưng đúng là: cho dược liệu vào ấm có dung tích vừa phải, cho nước sôi vào vừa đủ, đưa ấm vào dành (xung quanh và nắp có bọc vải), đậy dành lại, như thế, đảm bảo được đủ dung môi và nhiệt độ chiết gần như khi dùng bình hãm dược dụng.

Một số dạng chè thuốc cổ điển:
-   Chè Phan tả diệp - Sene: Lá cây Phan tả diệp (Cassia agustifolia Caesalpiniaceae) chứa anthraglycozid, có tính năng co bóp cơ trơn ruột, liều thấp có tác dụng nhuận tràng, liều cao có tác dụng tẩy, được dùng trong chứng không tiêu, chướng bụng, ngực.
-   Chè Đại hoàng: Thân rễ Đại hoàng (Rheum sp Poligonaceae) chứa anthragycosid, có tính tăng nhu động ruột già, dùng nhuận tràng.
-  Chè hòe hoa: Hoa chưa nở của cây hòe (Sophora Japonica Papilonaceae) chứa rutin (vitamin P) có tính tăng sức chịu đựng thành mạch, dùng cho người huyết áp cao, xơ vữa mạch, phòng tai biến vỡ mạch máu.
Nhãn chè thuốc có ghi công dụng, liều lượng dùng. Khi dùng quá liều dễ gây hại. Dùng liều cao chè phan tả diệp, đại hoàng sẽ có tác dụng tẩy, đi ngoài. Chè phan tả diệp còn có thể gây đau bụng dữ dội, nôn mửa, tăng co bóp cơ trơn bàng quang, tử cung và có hại cho phụ nữ mang thai. 
Ngày nay, chè thuốc có nhiều cách cải tiến: chiết xuất ra dưới dạng dịch chiết đậm đặc, sau đó trộn với các chất tan được (như đường lactose) thành loại bột hỗn hợp dịch chiết chất tan. Làm khô bột hỗn hợp này, gói vào bao có lỗ nhỏ li ti. Khi dùng, nhúng cả bao vào nước nóng, chỉ vài phút là được dịch chiết nóng, dùng được ngay. Ngoài ra, còn có cách chiết xuất ra dịch chiết đậm đặc rồi tẩm dịch chiết này vào dược liệu hay bã dược liệu đã làm khô sẽ được hỗn hợp dược liệu tẩm dịch chiết. Đóng gói, dùng như trên. Khi dùng, có cảm giác như dùng thảo dược.
Chè thuốc cải tiến không giữ lại đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của chè thuốc cổ điển. Có thể dùng cả loại dược liệu chắc cứng, chứa hoạt chất khó tan trong nước. Việc cho nước nóng vào sản phẩm khi dùng là một động tác hòa đơn giản, chứ không phải chiết xuất.

Chè thực phẩm chức năng
Về cách bào chế, cách dùng chè TPCN tương tự như chè thuốc cổ điển hay cải tiến. Nếu làm theo cách cổ điển thì cũng không theo các nguyên tắc chặt chẽ mà đơn giản hơn nhiều (pha trong ấm pha trà và uống như uống chè thường). Nếu dùng dạng cải tiến thì thường làm theo cách cải tiến nói trên.
Chè TPCN chứa dược liệu có tính chữa bệnh (đặc hiệu hoặc không đặc hiệu), nhưng hàm lượng thấp; với lượng uống hàng ngày (hoặc cao gấp vài lần) vẫn chỉ có ý nghĩa hỗ trợ chữa bệnh, không gây hại. Một vài ví dụ:
-  Lá (bánh tẻ) cây bạch quả (Ginkgo biloba, Ginkgonaceae), nấu thành cao, chuẩn hóa, chế thành thuốc tăng cường tuần hoàn não. Song cũng có thể lấy lá, chế ra chè TPCN (chè bạch quả) có hàm lượng các chất trên thấp hơn, không ổn định bằng cao, dùng hỗ trợ chữa bệnh này.
-   Lá cây chè vằng (jaminum subtriplierve Oleacae) chứa flavonoid, tanin có tính kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon, thường nấu hay hãm uống (đặc biệt cho người mới đẻ). Một số công ty chế thành chè TPCN (chè vằng, chè vàng tan) dùng bồi bổ sức khỏe.
-  Lá Artichaut (Cynara scolumus Compsositeae) chứa cynarin, chiết xuất thành dạng cao, thành viên hoặc chế thành thuốc tiêm, dùng lợi mật. Hiện có công ty dùng lá cây này, chế ra chè artichoke làm nước giải khát chung, hỗ trợ chữa bệnh (cho người viêm gan gây tắc mật, người khó tiểu tiện).
-   Chè dây (Cantoniensis planch Vitacae), người Tày gọi là Thau rả, người Nùng gọi là Khau rả, dùng chữa các bệnh ợ chua, đau thượng vị, viêm loét dạ dày. Theo kinh nghiệm dân gian và một số nghiên cứu người ta đã sản xuất thành thuốc ampelop. Một số công ty chế thành chè TPCN như chè dây Sapa, chè Shan tuyết Phìn Hồ, chè Giàng Lũng Phìn.
-   Chè phối hợp lá quả chưa chín cây mướp đắng (Momordica Charatica L, balsamia Desc Cu rcubitaceae) với lá cây râu mèo (Orthosiphon stamenius Labiateae) và toàn cây trinh nữ (Mimosa pudica Mimosaceae) trợ cho người bị đái tháo đường týp II.
Bên cạnh các loại chè TPCN trong nước, cũng có nhiều loại nhập của nước ngoài.

Ranh giới chè thuốc và chè TPCN chưa rõ ràng
Khó căn cứ vào nơi bán (hiệu thuốc, hiệu thực phẩm), hay số đăng kí (thuốc thực phẩm) mà phân biệt. Nhà sản xuất tùy theo sự tiện lợi mà xin lưu hành dưới dạng chè thuốc hay chè TPCN. Theo nguyên tắc, nhãn chè TPCN không được ghi công dụng chữa bệnh. Tuy nhiên một số ghi nhiều tính năng làm người dùng hiểu nhầm. Khi có bệnh (đặc biệt là khi bệnh nặng, cấp cứu) cần dùng thuốc đặc trị, nếu không sẽ chậm trễ gây hại. Ví dụ: cho đến nay chưa có loại dược liệu nào kiểm soát được đường huyết như các hóa dược. Bị đái tháo đường týp II phải dùng các hóa dược này, nếu không dùng đường huyết sẽ tăng, khi tăng quá cao sẽ gây hôn mê. Ngay cả khi một dược liệu vừa có sản phẩm là thuốc vừa có sản phẩm là chè TPCN thì cũng không thể dùng chè TPCN thay thế thuốc. Khi bị viêm gan tắc mật, phải dùng actichaut tiêm hay viên có chứa hoạt chất cynarin cao, đủ liều, mới chữa được, chứ không thể dùng chè TPCN (chè artichoke) chứa hoạt chất cynarin thấp, không đủ liều cần thiết.
Không nên nhầm là thuốc y học cổ truyền. Rất nhiều thảo dược dùng trong chè TPCN là dược liệu. Khi dùng chúng dạng sắc hay thuốc viên thì thường chiết đủ hoạt chất, dùng có liều lượng nhất định sẽ chữa được một số bệnh (theo đúng chuẩn trị). Chè TPCN dùng cho mọi người, dùng dưới dạng hãm (khác hẳn với khi sắc) nên có thể hỗ trợ chữa bệnh chứ không thể chữa được bệnh cụ thể cho người đang mắc. Một số chè TPCN không giới thiệu công dụng chữa bệnh (theo nguyên tắc) nhưng lại giới thiệu rất nhiều tính năng của các thành phần cộng lại làm cho người tiêu dùng hiểu là thuốc chữa bách bệnh.
Theo nguyên tắc, chè TPCN dùng với mức uống liều lượng bình thường (hoặc tăng vài lần) cũng không có hại. Tuy nhiên nếu nghe theo quảng cáo dùng sai mục đích (nhất là với sản phẩm nhập không chính thức, nhập lậu) thì cũng có thể nguy hiểm. Chè Fitne-Thái Lan (hay bán ở biên giới Lào - Quảng Trị) được quảng cáo ở nhãn là "nước giảm béo ở Thái Lan và các nước Châu Âu... dùng làm giảm cân, tan mỡ". Thành phần lớn là thảo dược có tính kích thích tiêu hóa nhuận tràng. Có người béo phì, thậm chí người muốn giữ eo tin theo quảng cáo, dùng liều cao và kéo dài; kết quả bị gây mất nước, tiêu chảy, làm mệt mỏi, suy kiệt. Béo phì là bệnh chuyển hóa chữa bằng cách dùng chè TPCN làm mất nước là phản khoa học, có hại.
Dùng chè TPCN là phù hợp với khuynh hướng quay về với thiên nhiên, có một số lợi ích nên khuyến khích, nhưng cần hiểu đây chỉ là sản phẩm hỗ trợ chữa bệnh, chứ không phải là thuốc, không thể thay hóa dược hay thuốc y học cổ truyền chữa bệnh, càng không thể chữa bách bệnh. Tránh giới thiệu quảng cáo không đúng và không lạm dụng dùng.

(Sức khỏe và Đời sống - Số 76 tháng 4/2010)
Sức khoẻ & Đời sống cuối tháng chủ đề thực phẩm chức năng

 

 

Các tin khác

Cần phải có tất cả thông tin.

Người gởi
Người nhận