Email Bản in

Mướp Hương - Trừa thấp nhiệt mùa hè

Mướp ngọt (khác mướp đắng) có hai loại: Mướp ta (mướp hương) và mướp khía. Bài này nói về mướp ta. Tên Hán là Ty qua, tên khoa học là LUFFACYLINDRICA (L). ROEM, thuộc họ bầu bí CUCURBITACEAE. Chúng đều là cây thảo leo có tua cuốn. Ở nông thôn hầu như nhà nào cũng có giàn mướp. Nay ở thành thị nhiều nhà cũng tận dụng khoảng trời thích hợp trồng mướp. Quả mướp non làm các món ăn mùa hè, các bộ phận của cây mướp lúc còn non cũng như khi đã về già đều dùng làm thuốc để chữa bệnh bốn mùa và đặc biệt về mùa hè thấp nhiệt. Có sách chỉ đưa ra vài ba công dụng của mướp, thậm chí cho rằng trồng mướp để ăn quả khi còn non và đến già để làm thuốc...
Về tính vị, các sách chia rõ tính bình, vị ngọt đối với quả, hạt, vỏ, dây cuốn, xơ, rễ. Riêng lá có vị đắng, tính lạnh. Nhưng có sách với kinh nghiệm thực tế thì xem như toàn bộ cây mướp có tính lương mát. Cho nên khuyên ăn mướp nấu chín, kể cả khi xào mướp (với lòng gà) cũng không nên xào tái, tuy ăn giòn nhưng người yếu bụng, ăn vào chiều tối có thể bị rối loạn tiêu hoá.
Về công dụng nói chung, cả cây mướp có tính thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, trừ thấp, tiêu viêm, cầm máu, giảm đau (lưng, khớp). Chữa các chứng bệnh ngoài da (rôm sảy, ngứa lở, mụn nhọt, sởi đậu, mụn trứng cá, tàn nhang, vết nhăn...), bệnh đường hô hấp (viêm mũi, họng, phế quản ho có đờm), tiết niệu (tiểu tiện không bình thường do thấp nhiệt).


 Thành phần hoá học: quả mướp non để ăn cứ 100g phần ăn được có 0.8 - 1.2g protein; 0.2g lipit; 3.04g gluxit, các vitamin: caroten (tiền sinh tố A), vitamin C,B1,B2,B3,PP; các chất khoáng: canxi, phốtpho, sắt.
Có tài liệu nói có gluxit làm vượng tim; cho 12 - 18 calo. Trong công trình nghiên cứu những vị thuốc chữa viêm khí quản mãn tính của trường ĐH Dược Hà Nội cho biết lá và xơ mướp có saponin, một genin (cax.oleanolic). Dịch chiết có tác dụng giãn phế quản, giảm ho long đờm. Sau đây là một số cách dùng :
Quả:
-    Thức ăn uống chống nóng: Quả mướp tươi nấu canh dùng tốt cho những người làm việc ngoài đồng, công trường dưới trời nắng nóng.
-    Quả nấu canh cua, rau đay là món ăn dân dã mát ngọt xua tan nóng hè oi bức, để ăn đủ xuất cơm, giúp trẻ con và người già giữ được sức khoẻ.
-    Cháo cho người già và trẻ em mùa hè. Lấy 30g gạo nấu nhừ cho vào một quả mướp đã thái thành miếng nhỏ. Khi ăn cho thêm ít muối hoặc đường. Cháo này làm mát máu, trừ cảm gió, giải độc, thông kinh lạc, hành huyết mạch, trừ đàm. Thích hợp cho người đang bị viêm khí quản mãn, lở loét ngoài da...
-    Bảo vệ da mùa hè: Quả mướp tươi rửa sạch thái nhỏ cho vào lọ sạch để qua đêm chắt lấy nước mướp đã tiết ra, xoa lên mặt, bảo vệ da như một loại mỹ phẩm.
-    Viêm da do tiếp xúc, dị ứng, lang ben trên mặt: Quả tươi rửa sạch để ráo, giã nhuyễn với ít muối đắp lên chỗ tổn thương.
-    Nếp nhăn trên mặt: ép mướp tươi, lấy nước trộn mật ong xoa mặt, có thể trộn với nước ép dưa chuột để bôi cùng.
-    Tàn nhang: Quả mướp 200g phơi khô, tán bột hoà nước bôi.
-    Trị chảy máu, người nóng khát: Mướp 250g, thịt lợn nạc 100g, hầm nhừ, nêm gia vị.
-    Tăng tiết sữa: Quả mướp tươi nấu móng giò hoặc chân gà làm cho bà mẹ nhiều sữa hoặc quả mướp 10g, một con cá mè làm sạch, gạo tấm 100g. Luộc cá lấy nước nấu cháo với mướp thái lát (bỏ vỏ).
-    Viêm tắc tia sữa: Mướp cả quả khô, cả hạt đốt tồn tính tán mịn. Mỗi lần 8g uống với ít rượu và xoa đắp lên vú.
Hạt:
-    Bổ gân xương tê mỏi: 1 nắm hạt mướp, 2 nắm gạo, vài ba bộ chân gà băm (gà ta). Nấu nhừ cháo ăn. Dùng tốt cho người già còn trẻ yếu chân đi không vững.
-    Ho nhiệt có đờm khó khạc: Hạt mướp 10g (đập dập), lá mướp 16g. Nấu lấy nước uống.
-    Chữa phù thủng ở mặt, chân tay: Nhân hạt giã, đốt cháy, tán nhỏ uống với ít rượu.
-    Chữa ít sữa: Hạt mướp 20g, thông thảo 8g, mộc thông 8g. Nấu với chân giò heo đen (khúc dưới chân trước) uống nước, ăn móng giò. Dùng nồi đất nấu. Sách nói "kiến hiệu lạ thường".
-    Tẩy giun sán: 40-50 hạt cho người lớn, trẻ em 30 hạt bỏ vỏ lấy nhân, ăn lúc đói hoặc giã nát uống với nước. Ngày 1 lần, dùng liên tiếp hai ngày.
Hoa:
-    Chữa phế nhiệt gây viêm mũi, ho đờm, chảy máu cam, mụn nhọt (trong uống ngoài đắp). Lấy 10g hoa cho vào cốc hãm nước thật sôi già 10 - 15 phút. Chắt nước cho mật ong hoặc đường phèn quấy đều, uống nóng. Bã đắp nhọt đầu đinh.
-    Ngứa lở mông: Vỏ quả mướp sấy khô tán bột hoà rượu nóng bôi.
Vỏ quả:
-    Người già khí huyết hư, yếu gân xương đàm trệ: Vỏ mướp 20g, Khương hoạt 8g, Mộc qua 8g, Độc hoạt 8g, nấu lấy nước uống thay trà. Theo sách "rất hay".
-    Chữa ít sữa: Vỏ quả mướp và thông thảo mỗi thứ một nắm nấu nước uống thay nước trà.
Lá:
-    Chữa rôm sẩy, dị ứng, mụn trứng cá, giời leo, bỏng, nước ăn chân: Lá mướp tươi rửa sạch, vắt lấy nước nguyên hoặc nấu nước trong uống ngoài bôi xoa tắm.
-    Sâu quảng, vết thương lâu không liền miệng: Lá mướp khô đốt cồn tồn tính tán mịn, rắc vào chỗ tổn thương (trước đó đã rửa sạch máu mủ...). Khi thấy lên da non thì lấy bột lá mướp trộn bột nghệ rắc lên vết thương. Lá mướp tươi vắt nước bôi rửa.
Dây và tua cuốn:
-    Viêm mũi mãn tính, chảy nước đục vàng, mất khả năng ngửi: Dây mướp 15g, cuống quả dưa hấu 30g, thiêu tồn tính tán bột, trộn bột băng phiến 0.6g. Mỗi ngày hít ngửi 1 lần hoặc một đoạn dây mướp 1m gần gốc thiêu tồn tính tán bột. Mỗi lần uống 5g với rượu ấm cho đến khi khỏi.
-    Ho gà: lấy dây tươi ép lấy nước, hoà mật ong hoặc đường phèn hấp uống.
-    Chữa máu mủ chân răng: Dây hoặc tua khô đốt thành than, tán mịn xoa xát vào chỗ tổn thương ngậm một lúc rồi nhổ đi.
-    Chữa nếp nhăn trên mặt: Nước ép dây mướp 10ml, nước chanh 10 ml, lòng trắng 1 quả trứng gà, mật ong vừa đủ đánh sủi bọt. Rửa mặt sạch rồi bôi hỗn hợp đó lên mặt, để khô rồi rửa mặt bằng nước sạch. Tuần làm ba lần.
-    Chữa cơn đau thắt lưng: Sắc tua 30 - 60g để uống.
Rễ mướp:
-    Chốc lở, mụn ghẻ chảy nước: Nấu rễ mướp già ngâm rửa.
-    Chữa hoàng đản (da, mắt vàng): Rễ mướp 5 đoạn giã nát, cho 1 bát nước nấu còn 8 phân, lọc bỏ bã. Lấy nước hoà với một ít rượu gạo để uống (Ty qua tửu - Nghiêm phương tân biên)
Xơ quả:
-    Trị chứng phế nhiệt ho đờm, các chứng đau tức ở mỏ ác, ở eo lưng, sưng đau tinh hoàn, ung nhọt: Xơ mướp 8 - 10g nấu nước uống, hoặc đốt tồn tính nghiền bột uống với ít rượu. Đồng thời lấy bột đó bôi lên chỗ đau.
-    Thấp khớp đau nhức: ngâm rượu xơ mướp để uống.
-    Chữa trĩ chảy máu, lỵ ra máu: Dùng 4 đến 8g xơ mướp, đốt tồn tính tán bột. Ngày uống hai lần. Hoặc xơ mướp cho vào chảo đến khi bốc khói, vàng sẩm. Nhấc khỏi lửa, đậy vung lại để nguội tán bột, uống ngày hai lần, mỗi lần 2g.
-    Bế kinh, tắt kinh, kinh ít: Quả mướp khô đốt tồn tính 12 -20g, uống với ít rượu. Hoặc phải nấu chín kỹ.
-    Quai bị sưng đau: Quả mướp đốt tồn tính trộn lòng trắng trứng gà bôi lên chỗ sưng ngày hai lần.
Cuống quả:
-    Chữa băng huyết: Cuống quả mướp 20g, lá huyết du 15g, cỏ nhọ nồi 10g, rễ cỏ tranh 10g, cành ngải cứu 15g. Sắc uống ngày 1 thang chia ba lần.
CHÚ Ý:
Theo Tuệ Tĩnh (Nam Dược Thần Hiệu) lấy xơ ở quả già đã qua mùa sương, khi dùng bỏ hạt. Ở các tỉnh miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây) có mướp lăng giác (8 rãnh trên vỏ), ngắn hơn mướp ta (mướp khía) tên là mướp Áo Môn, có hạt dễ gây ỉa chảy, nôn (liều 15 hạt), không độc với người, nhưng độc với cá (sách Bách quả trị bách bệnh), khi dùng cũng nên thận trọng.


Phó Đức Thuần
(Cây thuốc quý - Số 160 Tháng 7/2010)

Các tin khác

Cần phải có tất cả thông tin.

Người gởi
Người nhận