Email Bản in

Trẻ em và những vấn đề chú ý khi sử dụng thuốc

Ở trẻ em các chức năng về gan, thận, tiết niệu... chưa hoàn chỉnh. Cơ thể trẻ đang lớn và phát triển. Bởi vậy việc dùng thuốc ở trẻ có những điểm khác biệt so với người trưởng thành...

Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ

Thời kỳ phát triển và hoàn thiện cơ quan, tổ chức cơ thể kéo dài từ lúc chào đời cho đến năm 18 tuổi. Trong sử dụng thuốc người ta chỉ chú ý đến lứa tuổi trẻ em từ 0 - 12 tuổi. Trong giai đoạn này trẻ em được phân thành các lớp tuổi sau: trẻ sơ sinh (dưới 1 tháng tuổi), trẻ dưới 1 tuổi (từ 1 tháng đến 12 tháng tuổi), trẻ nhỏ 1 tuổi (từ 1 tuổi đến 6 tuổi) và trẻ em lớn (trên 6 tuổi đến 12 tuổi). Cách phân loại này phản ánh sự thay đổi về mặt sinh học với mục đích tính toán liều lượng thuốc. Trẻ trên 12 tuổi được coi như người lớn.

Ở lứa tuổi dưới 1 năm (đặc biệt dưới 1 tháng tuổi) thì sự hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ của thuốc bị ảnh hưởng nhiều nhất vì mọi chức năng của cơ thể: bài tiết acid của dạ dày, hệ enzym để phân tách và hấp thu thuốc, chức năng của gan, thận chưa hoàn chỉnh. Nhu động ruột của trẻ dưới 1 tháng tuổi nhanh, thể hiện đi ngoài rất nhiều lần trong ngày. Vì thế, những thuốc ở dạng tác động kéo dài không dùng cho trẻ em (vì tiện đỡ phải dùng nhiều lần trong ngày nhưng thuốc chưa kịp hấp thu, phát huy tác dụng đã bị tống ra ngoài rồi, nên người ta khuyên không dùng cho lứa tuổi này).

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có khả năng hấp thu thuốc qua da rất lớn đặc biệt ở vùng bẹn hoặc mặt (do da trẻ em vô cùng mỏng, hàng rào biểu mô chưa trưởng thành, hơn nữa diện tích bề mặt so với trọng lượng cơ thể trẻ lớn), nên những thuốc bôi ngoài dễ bị kích ứng hoặc dị ứng, có thể có tác dụng toàn thân gây độc. Vì vậy, trẻ dưới 2 tuổi không bôi, xoa các loại tinh dầu lên da của trẻ đặc biệt là vùng mũi (gây ngạt hô hấp vì thuốc hấp thu rất nhanh qua da trẻ). Nếu bôi thuốc mà băng lại khả năng hấp thu thuốc qua da tăng và có thể gây độc. Ví dụ, trẻ em hay bị hăm, các bà mẹ hay bôi thuốc corticoid lại mặc bỉm ra ngoài sẽ làm tăng hấp thu thuốc, có thể bị tác dụng phụ toàn thân gây hại cho trẻ.

Nếu cơ thể người lớn có đến 60-70% là nước thì ở trẻ em lượng nước chiếm tới 80%. Vì thế có thể lý giải trẻ em đi ngoài, ốm sút rất nhanh nhưng khi ăn lại 1 tuần sau lại bụ bẩm như thường. Những thuốc tan trong nước có thể tích phân bố rất rộng nên rất nhiều thuốc ở trẻ em phải dùng liều cao hơn người lớn thì mới đủ liều (vì nước làm cho thuốc phân tán và ít tác dụng). Ở trẻ em (nhất là trẻ sơ sinh) do lượng nước nhiều, ít cơ bắp vì thế người ta không dùng thuốc cho trẻ em theo đường tiêm bắp, cho đến 1 tuổi đường tiêm cho trẻ em vẫn là tĩnh mạch.

Gan và thận của trẻ đều kém nên thải trừ thuốc kém và thuốc có thể bị tích lũy trong cơ thể dẫn đến gây độc.

Những nguyên nhân gây tai biến thuốc ở trẻ

Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các tai biến do dùng thuốc ở trẻ em là do sự thiếu hiểu biết của người lớn. Các bà mẹ theo thói quen tự đi mua thuốc điều trị theo kinh nghiệm của mình khi trẻ bị bệnh hoặc nghe theo lời mách bảo của những người xung quanh... đã dẫn tới tình trạng lạm dụng thuốc hoặc dùng không đúng thuốc, không đúng liều hoặc đúng thuốc nhưng dùng quá liều mà không biết rằng thuốc có thể gây hại cho trẻ. Hơn nữa, tình trạng các bà mẹ tự ý bỏ hay tăng liều thuốc hoặc sử dụng lại đơn thuốc cũ, lấy thuốc của trẻ này cho trẻ khác dùng, thậm chí còn có người lấy thuốc của người lớn rồi tự phân liều cho trẻ uống... dẫn đến nguy cơ ngộ độc thuốc. Ngoài ra, cách cất giữ thuốc không cẩn thận, để thuốc bừa bãi trong tầm với của trẻ đã trở thành những nguy cơ tiềm ẩn dẫn tới các tai nạn liên quan đến thuốc ở trẻ em. Trẻ có thể tự uống, tự bôi dẫn đến ngộ độc. Hay gặp nhất là các thuốc thông thường như nhóm thuốc hạ sốt, thuốc cảm cúm, đặc biệt là các dạng phối hợp của chúng (phối hợp paracetamol với các khoáng histamin). Có trẻ  chỉ bị sổ mũi, bà mẹ mua thuốc chữa sổ mũi cho con nhưng không biết rằng trong thành phần thuốc còn có cả paracetamol, như vậy vô tình con của họ không bị sốt nhưng vẫn phải uống paracetamol kéo dài. Ngộ độc paracetamol gây hại gan, viêm gan, vàng da...

Ngoài ra, sự tương tác thuốc do dùng nhiều loại thuốc một lúc cũng gây ra ngộ độc, thậm chí làm thay đổi chức năng gan, gây độc thận... trong khi trẻ vẫn ăn, chơi bình thường, chỉ khi làm các xét nghiệm mới phát hiện ra. Trường hợp này người ta gọi là các tác hại khó thấy khi dùng quá nhiều thuốc đồng thời.

Làm gì để phòng tránh

Đối với bác sĩ khi kê đơn thuốc cho trẻ em phải xem xét về tuổi và cân nặng, cố gắng dùng ít thuốc nhất có thể, đừng quan niệm là phải dùng nhiều thuốc hoặc thuốc đắt tiền mới tốt. Khi phải dùng nhiều thuốc cần xem xét các thuốc này có tương tác với nhau hay không, ghi rõ ràng, rành mạch tên thuốc, hướng dẫn cách sử dụng cho người trong gia đình biết cách sử dụng. Đây là điều hết sức quan trọng.

Khi sử dụng thuốc cần xét tới các đặc điểm riêng của trẻ, xem trẻ có một phản ứng tự nhiên nào trước đó hay không. Ví dụ ăn thức ăn lạ (kể cả bú mẹ) có bị mẫn ngứa hay nôn ọe không? Chú ý tới các cơ quan gan, thận... như trẻ đẻ ra có bị vàng da không, đi tiểu thế nào, có hay phù không... vì các loại thuốc đều phải thải trừ qua gan, thận. Nếu thận yếu không thải trừ được dễ gây ngộ độc cho trẻ.

Liều lượng thuốc cho trẻ thường tính theo cân nặng (mg/kg thể trọng), cần phải được điều chỉnh liều theo đặc điểm dược động học riêng của từng thuốc, theo tuổi (yếu tố quyết định chính), tình trạng bệnh, giới tính và theo nhu cầu của từng bệnh nhi. Nếu không có thể dẫn đến điều trị không hiệu quả hoặc có nguy cơ nhiễm độc.

Trên thực tế có những thuốc trong hướng dẫn sử dụng không cho liều trẻ em hoặc ghi: Thận trọng khi dùng cho trẻ em (có nghĩa là cho đến thời điểm hiện tại kinh nghiệm sử dụng thuốc này cho trẻ em chưa đủ nên thận trọng khi dùng). Ví dụ omeprazol (losec), nói thận trọng dùng cho trẻ em và không có liều dùng cho trẻ. Khi phải dùng phải căn cứ vào cân nặng, diện tích bề mặt cơ thể... để tính toán liều lượng phù hợp.

Khi dùng thuốc phải theo dõi chặt chẽ những phản ứng phụ của thuốc. Có hai loại phản ứng: phản ứng nhanh (sốc phản vệ xảy ra khi tức thì) và phản ứng muộn (thường xảy ra trong thời gian sau đó, thậm chí có thể xuất hiện sau 10-15 ngày) và phải luôn có các thuốc cấp cứu để phòng các tai biến do thuốc gây ra.

Về phía người bệnh không được tự ý dùng thuốc. Cần để thuốc ngoài tầm với trẻ em. Trẻ em là đối tượng đặc biệt, bởi vậy không qui từ liều của người lớn ra dùng cho trẻ. Đối với trẻ dưới 6 tuổi nên dùng đường uống, dạng lỏng. Với các loại bình xịt phải có dụng cụ thích hợp. Cần chú ý, thuốc nước chế sẵn phù hợp với trẻ nhỏ nhưng thuốc pha có chứa nhiều đường có khả năng gây sâu răng. Vì vậy không nên dùng các thuốc này dài ngày. Không trộn thuốc vào bình sữa hoặc thức ăn của trẻ vì thuốc có thể gây tương tác với sữa hoặc thức ăn, hơn nữa việc trộn thuốc vào trong đồ ăn của trẻ còn làm cho số lượng thuốc đưa vào cơ thể bị thiếu hụt nếu bệnh nhi dùng không hết thức ăn hoặc sữa chứa trong bình. Khi trẻ có bệnh cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để được khám và dùng thuốc đúng.

Một số thuốc không nên dùng cho trẻ em: nhóm cyclin như tetracycline và corticoid (vì gây chậm lớn cho trẻ, thóp phồng và hỏng răng), androgen (gây dậy thì sớm), hexachloraphen (gây độc thần kinh), novobiocin, sulfonamide (gây vàng da), các kháng sinh quinolon như ciproxacin, ofloxacin, fluoroquinolon... không dùng cho trẻ dưới 16 tuổi (vì ảnh hưởng tới xương sụn của trẻ).

Ở trẻ em (nhất là trẻ sơ sinh) do lượng nước nhiều, ít cơ bắp vì thế người ta không dùng thuốc cho trẻ em theo đường tiêm bắp, cho đến 1 tuổi đường tiêm cho trẻ em vẫn là tĩnh mạch.


DS. Hoàng Thu Thủy (Sức khỏe và đời sống - Số 77 - Tháng 5/2010).

Các tin khác

Cần phải có tất cả thông tin.

Người gởi
Người nhận