Email Bản in

Văn hóa doanh nghiệp với khởi nghiệp và sáng tạo

21-7-2012 (VF) — Lipartito (1999)[i] định nghĩa “văn hóa là hệ thống giá trị, ý tưởng và niềm tin tạo nên cấu trúc tư duy để nắm bắt thực tế. Văn hóa kinh doanh là những gì đặt ra (i) các khái niệm tổ chức và giới hạn nhằm xác định điều gì là thực tế và hợp lý đối với công việc quản trị, và (ii) các nguyên tắc mà thường chỉ được ngầm hiểu hoặc đồng thuận vô thức.” Theo định nghĩa này, khi các nhà quản lý có cùng cách nhìn về thế giới, cách hiểu về vận hành của thị trường, cách thức tạo lợi nhuận, và đồng thuận về địa chỉ đầu tư, họ sẽ có những quyết định kinh doanh giống nhau. Điều này lý giải vì sao hiện tượng bầy đàn phổ biến ngay trong thế giới kinh doanh vốn dĩ cạnh tranh khốc liệt.
 
Vậy làm sao doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt cho riêng mình? Điều kiện để tồn tại và thành công này chỉ xuất hiện khi doanh nghiệp có năng lực sáng tạo và khả năng đổi mới ngừng. Những sáng tạo và đổi mới này chỉ xuất hiện trong môi trường văn hóa doanh nghiệp cổ vũ khởi nghiệp và sáng tạo.
 
Góc nhìn văn hóa mang lại cách tiếp cận mới khi đánh giá mối quan hệ giữa doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.
Thành công không phải lúc nào cũng nhìn thấy.
 
Cách tiếp cận văn hóa nghi ngờ sự cần thiết phải phân biệt doanh nghiệp với người tiêu dùng cũng như việc xem xét tương tác giữa hai nhân tố này qua một ranh giới chính thức và có giới hạn vẫn gọi là thị trường. Thay vào đó, tiếp cận văn hóa tìm hiểu và lý giải xem bằng cách nào mà các ý tưởng và chiến lược của doanh nghiệp lại tìm được lối đi vào tâm trí của người tiêu dùng, và nhờ đó tạo ra nhu cầu với sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp.
 
Văn hóa và thực hành kinh doanh
 
Trên thực tế, khi triển khai hoạt động, đặc biệt là các nỗ lực sáng tạo và đổi mới, doanh nghiệp phải dự báo được vị thế của mình trên thị trường trong tương lai mà hoàn toàn không dựa vào bất cứ thông số đã biết nào. Người quản trị doanh nghiệp chỉ có thể dựa trên một loạt các cảm nhận và đánh giá mang tính kinh nghiệm. Chẳng hạn như, một nguyên tắc để ra quyết định ứng dụng công nghệ tự động trong sản xuất là khi quan sát thấy những dấu hiệu ngang ngược trong đội ngũ công nhân. Ngay cả khi cố gắng hành động sao cho hợp lẽ thì những công nhân ngang ngược vẫn có thể tạo ra những sự cố gây tác hại bất ngờ nhất cho doanh nghiệp. Người quản trị, bởi vậy, khi nhận thấy những dấu hiệu này sẽ bắt đầu nghĩ tới phương án tự động hóa sản xuất.
 
Mọi doanh nghiệp đều phụ thuộc vào những nhận định chủ quan về điều gì thường xảy ra trong mỗi tình huống cụ thể, hoặc diễn biến tương lai sẽ ra sao, hay người lao động, khách hàng và nhà đầu tư sẽ phản ứng như thế nào. Những nhận định chủ quan này phụ thuộc vào các thông số mang tính biểu tượng của doanh nghiệp và hiểu biết của đội ngũ quản trị.
 
Biểu tượng của doanh nghiệp – như ngân sách vốn hay dòng tiền chiết khấu – là những đại diện quyền lực của thực tiễn kinh doanh, có tác động điều khiển hành vi quản trị. Tuy nhiên, những biểu tượng này không có tính tổng quan và không phản ánh hình ảnh khách quan của thế giới. Một số doanh nghiệp hoàn toàn dựa vào những thông số này để ra quyết định đầu tư, một số khác chỉ xem đó là những định hướng cơ bản. Những sự khác biệt này được giải thích như một phần định hướng văn hóa của doanh nghiệp. Cách thức các nhà quản trị giải mã các tín hiệu thu nhận từ thế giới kinh doanh – ngắn gọn là văn hóa của nhà quản trị – luôn là nhân tố quyết định mỗi hành động của họ.
 
Khi văn hóa đã thâm nhập vào quyết định quản trị thì không nên ngầm định sự hiện diện của văn hóa doanh nghiệp. Thông thường, người ta không mấy quan tâm tới ngôn ngữ họ sử dụng để nắm bắt hiểu biết về thế giới xung quanh. Chúng ta giữ trong đầu rất nhiều “sự thật hiển nhiên” – mà đa phần là chưa được kiểm chứng, cũng như không thể kiểm chứng. Thậm chí, chúng ta ra quyết định dựa trên những niềm tin này mỗi ngày trong việc xác định độ tin cậy với một khách hàng mới tới đâu hay mức độ rủi ro của một khoản vay ra sao. Tương tự, các “lối mòn” hình thành trong doanh nghiệp cho phép đưa ra những quyết định nhanh, hiệu quả nhưng không được kiểm chứng. Thực tế của việc phải ra các quyết định trong điều kiện không có thông tin đầy đủ và nhu cầu hành động trước khi biết rõ được kết cục buộc doanh nghiệp phải tích lũy kinh nghiệm. Cơ sở để doanh nghiệp thực hành theo kinh nghiệm chính là tập hợp của niềm tin và các biểu tượng.
 
Và những niềm tin đó không phải lúc nào cũng sai. Kinh nghiệm về sức mạnh năng suất của các hệ thống tương tác và tự động hóa trong lĩnh vực sản xuất tại Hoa Kỳ trên thực tế đã thành công trong suốt thời gian dài của thế kỷ 19 và 20 mặc dù không hề có bất kỳ ý nghĩa phổ quát nào. Kinh nghiệm này chỉ dựa một phần vào thực tế rằng, máy móc thực sự có thể được kết nối trong một hệ thống kỹ thuật có năng suất cao. Một khi hệ thống đó được tạo ra, chi phí sản xuất sẽ giảm xuống còn sản lượng thì tăng lên.
 
Nhưng việc áp dụng bài học này trong các ngành công nghiệp mới lại không thể chỉ đơn giản dựa trên các kết luận hợp lý. Thay vào đó, cần có những cam kết và niềm tin mạnh mẽ vào thành công của ý tưởng mới trong hệ thống kỹ thuật. Các chiến lược gia chấp nhận những ý tưởng mới thường nhận thấy quyết định của họ trở nên thật đúng đắn. Và một quốc gia với lực lượng doanh nhân khởi nghiệp có xu hướng hành động theo cách này sẽ có một năng lực cạnh tranh quốc tế đáng gờm. Mặt khác, những cam kết không được kiểm chứng như vậy có thể dẫn tới thảm họa. IBM và General Motors từng phải trả giá đắt khi dựa vào những kinh nghiệm chỉ duy nhất mang tới thành công một lần.
 
Nếu doanh nghiệp quyết định triển khai các ý tưởng không được kiểm chứng – chỉ dựa trên niềm tin trong hệ thống văn hóa doanh nghiệp – thì thị trường có cách gì để loại bỏ những ý tưởng tầm thường và tán thưởng những ý tưởng hữu ích? Thực tế là, doanh nghiệp chỉ làm việc duy nhất là giới thiệu các cơ hội với xã hội, còn công chúng tiêu dùng hoàn toàn tự do quyết định chấp nhận hay từ chối. Nói cách khác, một tổ chức kinh doanh có thể phát triển cho mình một hay thậm chí là nhiều năng lực độc đáo (tạo ra các sản phẩm và dịch vụ khác biệt) nhưng cạnh tranh trên thị trường mới quyết định ai là người thành công.
 
Văn hóa hiện diện trong mọi quyết định kinh doanh. Không khi nào tồn tại những phản ứng đơn giản, một chiều và không mang bản sắc văn hóa của doanh nghiệp với những tác động của thị trường. Ngay cả khi doanh nghiệp không có bất kỳ phản ứng nào trước những biến động của thị trường thì đó cũng là biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp đó rồi. Mọi hành vi của doanh nghiệp, dù là phản hồi đơn giản nhất với những bài học mơ hồ trên thị trường cũng đều được lọc qua lăng kính văn hóa của mỗi tác nhân trên thị trường. Một doanh nghiệp cố gắng chấm dứt mọi hành động dựa trên ý định và quan niệm văn hóa đặc thù sẽ không lo chệch hướng, nhưng đã mù.
 
Xenikou và Simosi (2006)[ii] khảo sát thực nghiệm quan hệ giữa phong cách lãnh đạo khuyến khích và cổ vũ đội ngũ (transformational leadership) với định hướng văn hóa của doanh nghiệp, cũng như tác dụng tích hợp của hai yếu tố này tới kết quả kinh doanh. Đo đạc thống kê trên mẫu 300 nhân sự trong một tổ chức tài chính lớn tại Hy Lạp cho thấy, văn hóa hướng tới thành tựu (đặc tính của tinh thần khởi nghiệp) và khả năng thích ứng với biến đổi của môi trường (đặc tính của năng lực sáng tạo) có tác động trực tiếp tới kết quả kinh doanh. Phong cách lãnh đạo cổ vũ và định hướng văn hóa nhân văn tác động gián tiếp tích cực tới kết quả kinh doanh thông qua ‘thói quen’ không ngừng tìm kiếm thành tựu của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu này gợi ý các nhà quản trị rằng, để đạt tới thành tích kinh doanh cao nhất cần thiết phát triển các quan hệ xã hội tích cực và có tính xây dựng trong đội ngũ của doanh nghiệp, bên cạnh việc đặt ra các mục tiêu và công việc phải hoàn thành.
 
Khởi nghiệp và sáng tạo trong văn hóa kinh doanh Việt Nam
 
Các giá trị văn hóa truyền thống vẫn giữ ảnh hưởng mạnh mẽ tới xã hội Việt Nam đương đại và có một số hiệu ứng cản trở phát triển tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng (Vương và Trần: 2010)[iii]. Nỗ lực khởi nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng bởi quan hệ tín dụng được thiết lập dựa trên các mối quan hệ đã trở thành một đặc tính văn hóa trong xã hội mang ảnh hưởng Khổng giáo rõ rệt. Hoặc chất lượng giáo dục kinh doanh thấp vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm của một quan niệm truyền thống lâu đời là xem nhẹ vai trò của thương nhân và sự giàu có.
 
Tinh thần khởi nghiệp là động lực quan trọng nhất làm nên thành tựu tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đổi mới (Vương, 2007[iv] và Vương et al., 2011). Tuy vậy, quá trình phát triển kinh tế mới chỉ giải phóng lực lượng lao động và hoạt động kinh tế thị trường – những yếu tố mang lại động lực thương mại cho lực lượng khởi nghiệp trong nỗ lực hoạt động hiệu quả hơn. Môi trường văn hóa kinh doanh Việt Nam chưa thực sự đạt tới tầm mức tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, thúc đẩy các doanh nghiệp phải có những cải tiến và sáng tạo đáng kể trong thái độ và cả phương pháp kinh doanh.
 
Năng lực sáng tạo và đổi mới quan trọng hơn rất nhiều các yếu tố đầu vào vẫn luôn được công nhận có vai trò quyết định trong khuôn khổ học thuyết kinh tế của D. Ricardo, như đất đai, vốn hay lao động. Với Ricardo, nhiều đầu vào sẽ cho nhiều đầu ra. Thực tiễn kinh tế Việt Nam những năm vừa qua có quá nhiều phản ví dụ cho quan điểm kinh tế Ricardo. Theo số liệu thống kê, năm 2009, DNNN phải sử dụng 2,2 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu trong khi mức trung bình của các doanh nghiệp Việt Nam là 1,5 đồng. Cùng trong năm này, để có một đồng doanh thu, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần 1,3 đồng vốn, còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ cần 1,2 đồng vốn.[v]
 
Trong tác phẩm kinh điển The Wealth of Nations (1776), A. Smith nhận định rằng khai thác các cơ hội – ở hiện tại hay dự kiến sẽ xuất hiện trong tương lai – cùng với động lực tự thân tìm kiếm các lợi ích kinh tế sẽ dẫn tới các hoạt động kinh tế chủ động tự lập, dám chấp nhận thách thức và mang tính thương mại cao. Tất cả các yếu tố này kết hợp cùng nhau tạo thành tinh thần khởi nghiệp trong xã hội.
 
Giá trị văn hóa Khổng giáo đã bắt rễ hàng ngàn năm trong xã hội Việt Nam, phản ánh trong nhiều mặt đời sống xã hội, hẳn nhiên có cả hoạt động kinh doanh. Một trật tư xã hội vô hình được xác lập, trong đó, những người làm ăn, buôn bán được xếp ở vị trí sau cùng: “Sỹ – Nông – Công – Thương.” Trong bối cảnh hiện đại, xã hội đánh giá ngày càng cao vai trò và đóng góp của lực lượng doanh nhân. Tuy nhiên, một quan niệm xã hội đã tồn tại cả trăm năm không dễ thay đổi chỉ trong vài thập kỷ đổi mới và hội nhập kinh tế.
 
Giữ thể diện – một trong những giá trị văn hóa cốt lõi của Khổng giáo – cũng có những biểu hiện rất rõ trong đời sống kinh doanh ở Việt Nam. Hình ảnh doanh nhân, với phần đông xã hội, gắn liền với hình thức sang trọng, tiện nghi và giàu có. Dù đang làm tốt nhiệm vụ tạo ra công ăn việc làm và đóng góp giá trị mới nhưng thiếu những tiêu chí hình thức này, một doanh nhân vẫn chưa được coi là thành đạt, hay thậm chí còn chưa phải doanh nhân. Bắt nguồn sâu xa từ ngộ nhận này mà nhiều người đã bị lừa gạt bởi những kẻ ngụy trang hình thức, vờ làm doanh nhân để chiếm đoạt tài sản.
Văn hóa doanh nghiệp, được quan tâm và trao đổi nhiều ở Việt Nam, nhưng vẫn thiếu một cách hiểu rõ ràng và đồng nhất về khái niệm này. Chấp nhận những khái niệm lờ mờ và đại khái là một rào cản hạn chế sức phát triển của doanh nghiệp Việt Nam. Thomas và Napier (2004) đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống chứa những giá trị, thái độ, niềm tin và các hành vi có ý nghĩa của cộng đồng bên trong doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.”[vi] Định nghĩa này phần nào giúp lý giải phần nào tính thiếu khoan hoa và năng lực đổi mới yếu trong không gian văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam (Vương, 2007).
 
Giáo lý Khổng từ chối việc cải sửa những hiểu biết của người xưa, cho dù sai lầm. Như thế, Khổng giáo trực tiếp bác bỏ giá trị văn hóa của việc tìm kiếm chân lý và kiến thức mới trong khoa học đời sống. Tính bất dung và khả năng khoan hòa thấp không cho phép các tranh biện và luận thuyết mới tồn tại song song. Trong khi đó, Geert Hofstede nhấn mạnh rằng một văn hóa ủng hộ giá trị theo đuổi tìm kiếm chân lý. Giá trị đó liên quan chặt chẽ tới khả năng chấp nhận rủi ro, thách thức và sẵn sàng sống trong sự bất trắc, không ổn định. Sở dĩ có mối liên hệ này là vì việc tìm kiếm chân lý, bác bỏ cái cũ lạc hậu và chấp nhận những thay đổi có thể gây ra những bất trắc cho một trật tự đã sắp xếp. Bên canh đó, để có thể đi tới nhận thức và hiểu biết tiến bộ mới, tranh biện sẽ phải xảy ra. Để cái mới được chấp nhận, môi trường văn hóa phải chứa đựng sự khoan hòa cần thiết trước những ý kiến khác biệt, đặc biệt là kiến thức và hiểu biết mới.
 
Giá trị văn hóa là khái niệm trừu tượng và được bắt đầu từ niềm tin. Mặc dù niềm tin cũng rất trừu tượng nhưng nhân loại nhìn chung có niềm tin giống nhau vào điều gì là tốt đẹp hay xấu xa. Chẳng hạn, việc sử dụng lao động trẻ em để làm ra hàng hóa giá rẻ tuy có sức cạnh tranh cao hơn nhưng luôn bị xem là hành động kinh doanh văn hóa kém.
 
Vương et al. (2012)[vii] khảo sát quan hệ văn hóa-sáng tạo-khởi nghiệp từ 115 trường hợp thành công kinh doanh tại Việt Nam, tập hợp qua thông tin trên các báo, tạp chí kinh doanh và quan sát trong thực tiễn làm việc với các doanh nghiệp. Phân tích thống kê quan hệ giữa ba giá trị văn hóa – (i) kinh doanh dựa vào quan hệ cá nhân, (ii) chấp nhận bất trắc và (iii) khả năng huy động đủ nguồn lực – và ba cách thức sáng tạo của doanh nghiệp – (i) đưa ra sản phẩm mới sau một quá trình tìm kiếm các ý tưởng mới, hoàn thiện năng lực chuyên môn và kiên trì thực hiện, (ii) nhận thức bất ngờ về giải pháp với vấn đề hoặc thực sự hiểu thấu ý tưởng, và (iii) ý tưởng đột phá mà phần lớn không hề giống bất kỳ sự hình dung nào trước khi bắt tay vào giải quyết vấn đề – đưa tới kết luận: Trong giai đoạn khởi nghiệp, giá trị văn hóa và phương thức sáng tạo là những nhân tố có ảnh hưởng đáng kể tới thành công kinh doanh. Những ảnh hưởng này giảm đi, thậm chí không mấy rõ ràng, khi doanh nghiệp đã phát triển bề thế.
 
Khảo sát của Basu và Altinay (2007) [viii] với các nhóm doanh nhân nhập cư đến từ các châu lục và quốc gia khác nhau cũng ghi nhận sự ảnh hưởng tác động chặt chẽ giữa văn hóa và khởi nghiệp, đặc biệt trong các cộng đồng thiểu số của xã hội. Động lực khởi sự kinh doanh, các thức huy động vốn khởi nghiệp, bản chất của mô hình kinh doanh.. hoàn toàn khác biệt trong các cộng đồng có nền tảng gia đình, tôn giáo, phương thức giáo dục truyền thông khác nhau. Tại Việt Nam, cũng có thể nhận thấy những khác biệt này giữa các vùng miền.
 
Vương (2007) lý giải sự khác biệt về quy mô kinh tế và tập quán kinh doanh giữa hai trung tâm kinh tế của Việt Nam là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh qua lăng kính văn hóa kinh doanh. Tại Tp. Hồ Chí Minh, cư dân có thái độ tích cực và có xu hướng ủng hộ việc khởi sự hay phát triển kinh doanh. Huy động vốn cũng dễ dàng với sức thuyết phục bằng niềm tin – nguyên nhân sâu xa là khả năng chấp nhận rủi ro cao. Nhờ thế, nhiều người kinh doanh thất bại vẫn có thể làm lại từ đầu và không bị kỳ thị; cơ hội kinh doanh cũng ít bị bỏ qua. Những đặc tính này tạo cảm xúc về một nền kinh tế sôi động cho nhiều người khi mới đặt chân tới thành phố này. Niềm tin đó có căn cứ. Mức tiêu dùng cao tại Tp. Hồ Chí Minh tạo ra nhu cầu lớn. Đáp ứng nhu cầu chưa được thỏa mãn và đang ngày càng tăng cao chính là động lực lớn nhất của quá trình “tạo ra giá trị,” một động lực kinh doanh hoàn hảo. Mật độ giao thương và sự cởi mở của xã hội tại đây cũng rất cao. Những đặc tính trên khiến chính những người Hà Nội, vốn kín đáo và đầy thận trọng, khi ở trong môi trường Tp. Hồ Chí Minh cũng trở nên cởi mở và ‘chịu’ giao thương hơn.
 
Sáng tạo trong môi trường kỷ luật
 
Doanh nghiệp thường có tính kỷ luật cao. Các doanh nghiệp Việt Nam lại càng đề cao sự tôn trọng thứ bậc trong tổ chức. Đặc trưng văn hóa này có cản trở sáng tạo? Thật may mắn, Napier và Nilsson (2008)[ix] quan sát các tổ chức giàu tính sáng tạo cũng như năng suất kinh tế cao và nhận thấy tất cả đều có chung một đặc điểm: Kỷ luật.
Để đạt tới sự sáng tạo có ba kỷ luật cần tuân thủ: (i) suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ kỷ luật nghề nghiệp quen thuộc (out of discipline thinking), (ii) thực hành với năng lực chuyên môn tốt nhất trong kỷ luật nghề nghiệp (within discipline expertise) và (iii) triển khai theo một quy trình đầy tính kỷ luật (a disciplined process).
 
Suy nghĩ vượt ra ngoài kỷ luật quan tâm tới năng lực xem xét và tìm kiếm ý tưởng mới ở phạm vi bên ngoài tổ chức, lĩnh vực hoạt động, ngành, hay bất kỳ giới hạn nào mà tổ chức/cá nhân tự đặt ra cho mình trước đó. Người có năng lực suy nghĩ vượt ra ngoài kỷ luật tiếp nhận thông tin từ những nguồn nằm bên ngoài phạm vi và lĩnh vực quen thuộc, rồi sau đó tìm cách hiểu rõ làm sao có thể áp dụng những ý tưởng/thông tin đó trong tình huống cụ thể của mình.
Thực hành với năng lực chuyên môn tốt nhất đề cập tới cách thức mà cá nhân trở thành người giỏi nhất trong lĩnh vực của mình và sau đó, với nền tảng năng lực chuyên môn cao, tiếp tục suy nghĩ ngày càng sáng tạo hơn. Điểm mấu chốt ở đây là, khi những người giỏi nhất trong các lĩnh vực chuyên môn (có thể giống hoặc khác nhau) cạnh tranh và/hoặc hợp tác cùng nhau, họ có thể học và nhanh chóng cải thiện khả năng của mình từ chính những người khác. Kết quả quá trình học và tự hoàn thiện từ quan sát năng lực chuyên môn tốt nhất ở người các (đối thủ cạnh tranh hay đồng nghiệp hợp tác) là những ý tưởng mới.
 
Quá trình kỷ luật nghĩa là tổ chức sử dụng các quy tắc, cấu trúc, vận hành quy củ, tuần tự để tạo điều kiện thuận lợi cho sáng tạo nảy nở. Khi mọi việc đều được cắt đặt ngăn nắp, cá nhân được hoàn toàn tập trung năng lượng vào việc tư duy và tìm kiếm các ý tưởng mới.
Các doanh nhân thường ủng hộ ngay hai khía cạnh đầu tiên – liên tục tìm kiếm ý tưởng mới, xây dựng tính chuyên sâu trong một số lĩnh vực.  Nhưng nhiều người cảm thấy khía cạnh kỷ luật thứ ba rất khó ứng dụng.  Thay vì cho phép dành thời gian và tạo ra hệ thống để phát triển các ý tưởng mới, họ thường nhảy cóc tới các ý tưởng chứ không nghiền ngẫm, nung nấu, hay kiểm định nữa. Thực tiễn cho thấy là họ lo ngại đánh mất cơ hội, nhưng lại không mảy may lo việc thất bại với ý tưởng ngay khi đã có cơ hội.  Xét kỹ ra, bằng việc dành đủ thời gian cho sáng tạo theo một phương pháp có tổ chức, doanh nghiệp có thể tiết kiệm thời gian về sau và thu nhận được nhiều ý tưởng có thể hữu ích hơn nữa.
 
Christensen và Overdoft (2000) [x] cũng nhất trí rằng, sáng tạo trong các doanh nghiệp đã phát triển hoàn chỉnh là rất khó khăn. Nghịch lý là đội ngũ nhân sự chất lượng cao khi được đặt trong môi trường làm việc đầy đủ tiện nghi lại không thể đưa ra các giải pháp cải tiến và đổi mới trước áp lực không được phép thất bại. Việc doanh nghiệp có thể hay không thể làm gì phụ thuộc ba yếu tố: (i) nguồn lực – doanh nghiệp có gì để thực hiện, (ii) quy trình – doanh nghiệp tổ chức thực hiện như thế nào, và (iii) giá trị – yếu tố văn hóa này thể hiện qua quyết định sẽ ưu tiên làm gì của mỗi thành viên doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì việc giáo dục và huấn luyện nhân sự để đội ngũ đạt tới đồng nhất về giá trị càng quan trọng, thậm chí còn hơn cả hai yếu tố trước. Khi chinh phục thành tựu mới trở thành giá trị chung của doanh nghiệp, cơ hội giải quyết nghịch lý xuất hiện.
 
Joseph A. Schumpeter (1883-1950) là nhà khoa học chính trị và kinh tế lỗi lạc, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của khởi nghiệp – gắn liền với sáng tạo – trong nền kinh tế. Nền kinh tế trải qua chu kỳ tăng trưởng-suy thoái dài hạn bởi nó hoàn toàn dựa trên các phát minh và sáng tạo khoa học. Giai đoạn mở rộng kinh tế được tạo ra nhờ các sáng chế làm tăng năng suất lao động và khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, khi các nhà đầu tư không còn nhiều cơ hội để bỏ vốn, nền kinh tế sẽ đi vào giai đoạn suy giảm, một số doanh nghiệp đóng cửa hoặc phá sản. Tình trạng này sẽ kéo dài cho tới khi có những phát minh và cải tiến mới xuất hiện trong quá trình phá hủy sáng tạo: sản phẩm và phương pháp sản xuất cũ bị phá bỏ, số lượng việc làm cần thiết để tạo ra một sản phẩm từng được sản xuất giảm đi nhưng đồng thời nền kinh tế bắt đầu một chu kỳ mới dựa trên các sản phẩm mới và đầu vào sản xuất mới. Một nền kinh tế muốn khỏe mạnh phải tạo môi trường để quá trình này sản sinh và tiếp nối liên tục.
 
MacDonald (2008) [xi]tin tưởng việc gây dựng văn hóa khuyến khích và thúc đẩy sáng tạo ngay trong những hệ thống chặt chẽ và quan liêu nhất là hoàn toàn khả thi. Đồng ý với nhận định rằng các ý tưởng đổi mới chỉ có thể phát triển khi người đứng đầu doanh nghiệp có quan điểm cởi mở và chủ trương khuyến khích nỗ lực sáng tạo của đội ngũ, nhưng MacDonald cũng nhấn mạnh rằng, điều kiện tiên quyết phải là mong muốn sáng tạo từ chính mỗi thành viên của doanh nghiệp. Với số đông thành viên chia sẻ giá trị vươn tới những thành tựu mới, văn hóa sáng tạo sẽ hình thành trong doanh nghiệp mà người chủ hay người quản lý cấp cao cũng chỉ là một thành viên của cộng đồng. Giấc mơ của người Mỹ hiện đại là trở thành người khởi nghiệp (entrepreneur), được sống và làm việc với tinh thần của một người khởi nghiệp.
 
Biến giấc mơ khởi nghiệp thành hiện thực không chỉ có một cách duy nhất là lập doanh nghiệp hay tự triển khai một hoạt động kinh doanh. Có những người làm chủ doanh nghiệp mà không hề có tố chất khởi nghiệp. Đồng thời, cũng có rất nhiều người khởi nghiệp đang làm việc trong những đơn vị kinh doanh, hay kể cả các tổ chức hành chính. Trong cuốn sách hơn 250 trang của mình, Mac Donald trình bày chi tiết 11 quy tắc để định hình và phát triển tố chất khởi nghiệp ở mỗi cá nhân với chỉ một thông điệp bao trùm: vững tin rằng lựa chọn khởi nghiệp là suy nghĩ đúng đắn, và với niềm tin này hãy hành động quyết liệt, không ngừng cải thiện nhận thức về các cơ hội, và sẵn sàng chấp nhận bất trắc. Phần thưởng dành cho người người khởi nghiệp là sự độc lập về kinh tế và quyền tự định đoạt sự nghiệp của chính mình.
 
Khởi nghiệp và văn minh kinh doanh
 
Khởi nghiệp là đặc tính không thể thiếu trong văn hóa kinh doanh hội nhập. Đó là ước vọng chân chính của những ai có ý tưởng, ‘gan’ và có kỹ năng. Một xã hội trọng kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho những con người từ mọi nơi, mọi tầng lớp và trong mọi hoàn cảnh điều kiện và sự cổ vũ để xây dựng và thực hiện kế hoạch, một khi ước vọng và tính toán của họ thúc giục. Việc thất bại, phá sản, khánh kiệt tạm thời.. không đáng trở thành rào cản tâm lý đối với người có tinh thần khởi nghiệp, dám bước tới quá trình tạo dựng sự nghiệp kinh doanh riêng.
Người khởi nghiệp không nhất phải trở thành chủ doanh nghiệp. Từng người lao động, kỹ sư, bác sỹ, giáo viên.. của một xã hội kinh doanh đều có thể chứa tinh thần doanh nhân. Tinh thần ấy là sự ủng hộ các giá trị kinh doanh, công nhận sự phân công lao động và cạnh tranh để hoàn thiện kỹ năng, tăng năng suất, hướng tới giá trị bền vững và lợi ích văn minh cộng đồng. Các cơ chế sở hữu cổ phần tập thể và chia sẻ lợi nhuận mà không cần trực tiếp nắm giữ cổ phần của kỹ nghệ quản trị hiện đại còn tạo điều kiện tốt hơn nữa và thực chất hơn nữa cho việc khởi động tinh thần doanh nhân nơi từng người lao động.
 
Ươm mầm doanh nhân cho xã hội bắt đầu tư giáo dục kinh doanh, chú trọng tới thực học – tức là “học những môn thiết thực cho cuộc sống.” Các bậc tiền bối Lương Văn Can (Việt Nam) và Fukuzawa (Nhật Bản) có cùng triết lý rằng việc giáo dục kinh doanh cần thực hành và kỹ năng. Người theo thương học, bởi vậy, không hướng tới tấm bằng để ra làm quan, hay làm viên chức mà để thực nghiệp – tức là làm được công việc có đóng góp giá trị cho xã hội. Giảng đường là nơi học tập. Kiến thức trên giảng đường luôn lạc hậu so với đời sống. Trách nhiệm của người đi học là dùng hiểu biết của mình tạo ra giá trị, làm giàu cho bản thân, cho cộng đồng và cho xã hội.
Giáo dục kinh doanh Việt Nam trong thời đại hội nhập kinh tế toàn cầu cần những chuyển biến tích cực, với các nhà giáo dục là những người tiên phong ‘thực giảng’. Nhà giáo dục khởi nghiệp sẵn sàng đương đầu với rủi ro trong nghiên cứu khoa học, tìm tòi hiểu biết mới, và không ngừng sáng tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả truyền đạt kiến thức cũng như khích lệ tính tự chủ, luôn quan sát và sẵn sàng nắm bắt cơ hội ở học viên. Giáo dục kinh doanh không chỉ là một hoạt động giáo dục hay một dịch vụ kinh doanh, mà hơn thế, chất lượng và các mô hình giáo dục kinh doanh là một khía cạnh văn hóa của nền kinh tế chuyển đổi và đang tăng trưởng mạnh mẽ (Vương et al.: 2012)[xii].
 
Con đường đi tới sự giàu có không bằng phẳng. Hành trình tới văn minh kinh doanh càng gian truân hơn. Phương tiện hiện đại không mang lại đảm bảo vững chắc bởi năng lực tư duy và sự thông thái không phát triển nhờ cuộc sống tiện nghi và đầy đủ. Vấn đề cần suy nghĩ là phương pháp, cách thức tiến hành kinh doanh, là quan sát và lập luận phân tích trên con đường dài phía trước. Quan trọng hơn cả, một xã hội tiến tới văn minh kinh doanh cần chứa năng lượng tinh thần kinh doanh bền bỉ và các giá trị đạo đức kinh doanh văn minh./.

* DHVP Research

[i] Lipartito, K., 1995, “Culture and the Practice of Business History,” Business and Economic History, Vol. 24, No. 2
 
[ii] Xenikou, A. and Simosi, M., 2006, “Organizational culture and transformational leadership as predictors of business unit performance,” Journal of Managerial Psychology, Vol. 21, No. 6, pp. 566-79
 
[iii] Vuong, Q.H. and T.D., Tran, 2009, “The cultural dimensions of the Vietnamese private entrepreneurship,” The IUP Journal of Entrepreneurship Development, Vol. VI, Nos. 3/4, pp. 54-78.
 
[iv] Vương Quân Hoàng, 2007, Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải. Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật.
 
 
[vi] Napier N.K. and D.C., Thomas. 2004, Managing Relationships in Transition Economies, Praeger, Westport, CT 06881.
 
[vii] Vuong, Q.H., N.K., Napier, and T.D., Tran, 2012, “Examining Relationships between Culture, Creativity and Business Stage in an Emerging Market: The Case of Vietnam,” The International Journal of the Computer, the Internet and Management (IJCIM – ISSN 0858-7027), Vol. 20.
 
[viii] Basu, A. and E., Altinay, 2002, The Interaction Between Culture and Entrepreneurship in London’s Immigrant Businesses, Henley Business School, University of Reading.
 
[ix] Napier, N.K. and M. Nilsson, 2008. The Creative Discipline: Mastering the art and science of innovation. Westport: Praeger.
 
[x] Christensen, C.M. and M., Overdorf, 2000, “Meeting the Challenge of Disruptive Change,” Harvard Business Review, March-April.
 
[xi] MacDonald, R.W., 2008, Beat the System: 11 Secrets to Building an Entrepreneurial Culture in a Bureaucratic World, John Wiley & Sons, Inc.
 
[xii] Vuong, Q.H., T.D. Tran, N.K. Napier, and T.H. Dau, 2012. “Business Education in the Emerging Economy of Vietnam Twenty Years of Expectations, Illusions, and Lessons,” Symposium Proceedings at “Business and Management Education Innovation in Emerging and Developing Countries” at Georgia Tech, Atlanta Feb. 10-11, 2012.
HẢI CHÂU sưu tầm
Các tin khác

Cần phải có tất cả thông tin.

Người gởi
Người nhận